Đinh Lăng

220.000

Đinh lăng là một loài cây được trồng phổ biến để làm cảnh ở nước ta, mọc ở Lào và Nam Trung Quốc. Trước đây không thấy dùng làm thuốc , gần đây do sự nghiên cứu tác dụng bổ dưỡng của nó nên mới bắt đầu được dùng. Thường dùng bằng cách đào rễ, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Cũng có cách dùng củ tươi thái lát mỏng nấu nước uống.

Danh mục:

Mô tả

Cây đinh lăng khá quen thuộc với cuộc sống của chúng ta (nhất là ở các vùng quê) bởi hầu như ở gia đình nào cũng phải trồng 1 – 2 gốc, hái lá/cành để uống hoặc dùng trong các món ăn như ăn nem ăn gỏi hay hấp cá. Chi tiết hơn về cây đinh lăng và công dụng trong chữa bệnh của cây đinh lăng sẽ được chia sẻ ngay sau đây.

Cây đinh lăng là gì?

Đinh lăng còn có tên gọi khác là cây gỏi cá hay nam dương lâm. Tên khoa học là Polyscias fruticossa. Thuộc họ Ngũ Gia Bì Araliaceae. Dân ta thường dùng rễ hay vỏ rễ phơi hoặc sấy khô của cây đinh lăng.

Phân bố, thu hái và chế biến Đinh lăng

Đinh lăng là một loài cây được trồng phổ biến để làm cảnh ở nước ta, mọc ở Lào và Nam Trung Quốc. Trước đây không thấy dùng làm thuốc , gần đây do sự nghiên cứu tác dụng bổ dưỡng của nó nên mới bắt đầu được dùng. Thường dùng bằng cách đào rễ, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô. Cũng có cách dùng củ tươi thái lát mỏng nấu nước uống. Từ những năm thập niêm 60, Bộ Y Tế đã nghiên cứu và thấy được công dụng bổ dưỡng của nó nên cây đinh lăng đã được đưa vào trồng rất phổ biến ở các cơ quan, công sở, bệnh viện và các vườn thuốc của các Trạm Y Tế xã.

Thành phần hóa học trong Đinh lăng

Trong đinh lăng đã tìm thấy các alcaloit, glucozit,saponin, flavonoit, tanin, vitamin nhóm B1, các axit amin trong đó có lyzin,xystei và methionin là các axit amin không thể thay thế được.

Tác dụng dược lý của Đinh lăng

Năm 1961, các khoa dược lý, dược liệu và giải phẫu bệnh lý Viện y học quân sự Việt nam nghiên cứu tác dụng của đinh lăng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể và một số công dụng khác đã đưa đến kết luận sau đây:

Nước sắc rễ đinh lăng có tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể trên thí nghiệm cấp tính tương tự như nhân sâm. Tam thất và các cây khác cùng họ cũng có tác dụng tương tự( thí nghiệm c ủa Brekman trên chuột lội nước và đeo vật nặng đã chứng minh).
Nhưng trên thí nghiệm trường diễn trong thời gian dài thì tác dụng của nó chóng hết và thường hay tích lũy. Với liều dùng 0,1ml cao lỏng đinh lăng cho 20g thể trọng sống làm giảm hoạt động của chuột nhắt trắng.
Đinh lăng tác dụng trực tiếp lên cơ tim ếch( theo thí nghiệm của Strub) cô lập với liều nhất định làm giảm trương lực cơ tim, làm tim co bóp yếu,thưa và tiến tới làm tim ngừng đập. Dung dịch nước 0,2 tới 1% rễ đinh lăng gây co mạch ở thỏ, theo phương pháp của Kravkov.
Với liều 0,5ml dung dịch cao đinh lăng 100-200% trên 1kg thể trọng, tiêm tĩnh mạch vành tai đều tăng cường độ hô hấp về cả biên độ và tần suất: huyết áp nhất thời sẽ hạ xuống.
Trên tử cung tại chỗ,với liều 1ml dung dịch cao đinh lăng 100% cho 1kg thể trọng,có tác dụng co bóp tử cung nhẹ.
Đinh lăng có tác dụng tăng tiết niệu gấp trên 5 lần so với bình thường với liều 2ml dung dịch đinh lăng 100% cho 100g thể trọng( thí nghiệm trên chuột bạch)
Liều độc: Đinh lăng rất ít độc tố, so với nhân sâm còn ít hơn nhiều. Giãi phẫu bệnh lý cho thấy chuột chết vì liều độc thường do tác động lên các cơ quan tim, thận, gan , não cuối cùng là chết. Liều đọc tiêm phúc mạc là 32,9g/lg, trong khi của nhân sâm chỉ là 16,5g/kg.
Làm tăng sức đề kháng của chuột đối với tác hại của bức xạ siêu cao tần và thấy công dụng kéo dài thời gian sống của chuột hơn so với một số loại thảo dược khác như đương quy, ba kích, ngũ gia bì.
Thực nghiệm trên người thì thấy viên bột rễ đinh lăng làm tăng khả năng chịu đựng của bộ đội, vận động viên thể thao trong các thực nghiệm gắng sức cũng như tập luyện bình thường khác.

Củ Đinh lăng ta trồng lâu năm (khác với loại đinh lăng siêu củ)

Công dụng và liều dùng Đinh lăng

Trên cơ sở nghiên cứu dược lý, Viện y học quân sự Việt Nam năm 1964 cho thí nghiệm dùng trên người thấy với liều 0,23 tới 0,5 g bột đinh lăng một ngày cho tác dụng tăng sức dẻo dai cơ thể như các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.
Trong nhân dân, ngoài công dụng ăn gỏi cá, có nơi còn dùng đinh lăng để chữa ho, ho ra máu, thông tiểu tiện, lợi sữa, kiết lỵ nặng.
Ở ́Ấn độ người ta dùng đinh lăng chữa sốt và làm săn chắc da.

Các đơn thuốc có đinh lăng:

– Chữa bệnh mệt mỏi, lười hoạt động: Đinh lăng rễ phơi khô, thái mỏng 0,5g thêm 100ml nước, đun sôi 15 phút, chia 2-3 lần uống trong ngày.
– Thông tia sưa, căng vú sữa: Rễ đinh lăng 30-40g, thêm 500ml nước sắc còn 250ml. Uống nóng,uống liền trong 2-3 ngày vú hết nhức, sữa chảy bình thường.
– Chữa vết thương hở: Giã nát lá đinh lăng đắp lên vết thương.

CỦ Đinh lăng ta (đinh lăng nếp) dùng để ngâm rượu

GỌI NGAY!
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon chat-active-icon